Tối ưu mô hình tính độ bão hòa nước cho tầng chứa Miocene, khu vực Đông Bắc bể Cửu Long, Việt Nam

  • Nguyễn Văn Hoàng Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)
  • Hoàng Việt Bách Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)
  • Nguyễn Trung Dũng Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)
  • Lê Trung Tâm Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)
  • Trần Văn Hà Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)
  • Hoàng Thị Thu Trang Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)
Keywords: Độ bão hòa nước, mô hình Dual-water, mô hình Simandoux, mô hình Indonesia, bể Cửu Long

Tóm tắt

Độ bão hòa nước (Sw) là thông số vỉa quan trọng cần xác định để xây dựng mô hình địa chất, mô hình khai thác và tính toán trữ lượng. Một số mô hình xác định thông số Swcho kết quả không phù hợp hoặc khác biệt rất lớn so với thông số Swixác định từ mẫu lõi. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định mô hình tính toán độ bão hòa nước tối ưu nhất cho các vỉa chứa tầng Miocene phía Đông Bắc bể trầm tích Cửu Long, Việt Nam. Các tài liệu giếng khoan được sử dụng cho các mô hình gồm tài liệu địa vật lý giếng khoan (wireline logging) được kết hợp với tài liệu địa chất, mẫu lõi để hiệu chỉnh kết quả tính hàm lượng sét, độ rỗng và cuối cùng là độ bão hòa nước áp dụng cho cùng các thông số đầu vào liên quan như mật độ xương đá, mật độ dung dịch khoan, điện trở vỉa sét, điện trở dung dịch… cho các mô hình. Tầng chứa Miocene gồm các tập cát kết xen kẹp với các vỉa sét (shale). Bản chất của các tập sét này là kết quả lắng đọng của khoáng vật sét (clay) và sét bột (silt) trong môi trường năng lượng thấp. Khoáng vật sét là thành phần chủ yếu với kích thước hạt rất nhỏ nên sức căng bề mặt lớn, có khả năng bắt giữ các phân tử nước trên bề mặt (water-bound) chứa các cation. Như vậy, độ dẫn điện hay điện trở suất sẽ được đóng góp chủ yếu bởi 2 thành phần là điện trở suất của nước vỉa (Rw) và điện trở suất của nước trên bề mặt sét (Rwb). Kết quả tính toán độ bão hòa nước tại tầng Miocene cho thấy độ bão hòa nước tính bằng mô hình Dual-water có giá trị tiệm cận nhất với giá trị độ bão hòa nước ban đầu trong vỉa (Swi) so với kết quả của các mô hình Simandoux, Indonesia và mô hình Archie. Từ cách tiếp cận trên, kết quả của nghiên cứu này có thể áp dụng cho minh giải tầng chứa Miocene ở phía Đông Bắc bể Cửu Long, Việt Nam.

Các tài liệu tham khảo

G.E. Archie, “The electrical resistivity log as an aid in determining some reservoir characteristics”, Transactions of the AIME, Vol. 146, No. 1, pp. 54 - 62, 1942. DOI: 10.2118/942054-G.

Jethro Sam-Marcus, Efeoghene Enaworu, Oluwatosin J. Rotimi, and Ifeanyi Steyeobot, “A proposed solution to the dermination of water saturation: Using a modelled equation”, Journal of Petroleum Exploraiton and Production Technology, Vol. 8, pp. 1009 - 1015, 2018. DOI:10.1007/s13202-018-0453-4.

C. Clavier, G. Coates, and J. Dumanoir, “Theoretical and experimental bases for the dual - water model for interpretation of shaly sands”, Society of Petroleum Engineers Journal, Vol. 24, No. 2, pp. 153 - 168, 1984 . DOI: 10.2118/6859-PA.

Hongyan Yu, Xiaolong Wei, Zhenliang Wang, Reza Rezaee, Yihuai Zang, Maxim Lebedev, and Stefan Iglauer, “Review of water saturation calculation methods in shale gas reservoir”, SPE Asia Pacific Oil and Gas Conference and Exhibition, Brisbane, Australia, 23 - 25 October 2018. DOI: 10.2118/192115-MS.

Liang Wang, Zhi-Qiang Mao, Zhong-Chun Sun, Xing-Ping Luo, Ren-Shuang Deng, Ya-Hui Zang, and Bing Ren, “Cation exchange capacity (Qv) estimation in shaly sand reservoirs: Case studies in the Junggar basin, northwest China”, Journal of Geophysics and Engineering, Vol. 12, No. 5, pp. 745 - 752, 2015. DOI: 10.1088/1742-2132/12/5/745 .

I. Juhasz, “Normalised Qv - The key to shaly sand evaluation using the Waxman-Smith equation in the absence of core data”, SPWLA 22nd Annual Logging Symposium, 23 - 26 June 1981.

K.A. Alfosail and A.U. Alkaabi, “Water saturation in shaly formation”, Middle East Oil Show and Conference, Bahrain, 15 - 18 March 1997. DOI: 10.2118/37746-MS.

H.J. Hill, G.E. Klein, O.J. Shirley, E.C. Thomas, and M.H. Waxman, “Bound water in shaly sand - its relation to Q and other formation properties”, The Log Analyst, Vol. 20, No. 3, 1979.

A.M. Attia, D. Fratta, and Z. Bassiouni, “Irreducible water saturation from capillary pressure and electrical resistivity measurement”, Oil & Gas Science and Technology, Vol. 63, No. 2, pp. 203 - 217, 2008. DOI: 10.2516/ogst:2007066.

D.C. Henrrick and W.D. Kennedy, “On the quagmire of shaly sand saturation equation”, SPWLA 50thAnnual Logging Symposium, The Woodlands, Texas, 21 - 24 June 2009.

I. Juhasz, “The central role of Qv and formation water salinity in the evaluation of shaly formations”, SPWLA 20thAnnual Logging Symposium, Tulsa, Oklahoma, 3 - 6 June 1979.

Đã đăng
2021-08-12
How to Cite
Nguyễn Văn, H., Hoàng Việt, B., Nguyễn Trung, D., Lê Trung, T., Trần Văn, H., & Hoàng Thị Thu, T. (2021). Tối ưu mô hình tính độ bão hòa nước cho tầng chứa Miocene, khu vực Đông Bắc bể Cửu Long, Việt Nam. Tạp Chí Dầu Khí, 7, 16 - 22. https://doi.org/10.47800/PVJ.2021.07-02
Số tạp chí
Chuyên mục
Bài báo khoa học