Ảnh hưởng của môi trường trầm tích và quá trình biến chất tới tính chất đá chứa của đá trầm tích cát kết E và F tại bể trầm tích Cửu Long, Việt Nam
Tóm tắt
Trong các đối tượng chứa dầu khí, các vỉa chứa cát kết luôn đóng một vài trò quan trọng. Do đó việc hiểu biết và nắm rõ các đặc tính chứa vỉa chứa là vô cùng quan trọng, đặc biệt là về độ rỗng và độ thấm (yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chứa và khả năng di chuyển của chất lưu trong vỉa chứa). Tính chất vỉa chứa bị ảnh hưởng bởi các thành phần khoáng chất, cấu trúc đá và các quá trình biến chất. Bài báo này đã nghiên cứu các đối tượng E và F tại ba giếng trong bể Cửu Long để xác định rõ hơn những tác động đến tính chất vỉa chứa không chỉ xuất phát từ đặc điểm trầm tích mà còn cả ảnh hưởng của quá trình biến chất, thông qua độ rỗng và độ thấm của vỉa chứa. Các mẫu lõi được phân tích và đánh giá thông quan sát mặt cắt phân lớp mỏng (thin section), kính hiển vi điện tử quét (SEM), quan sát nhiễu xạ tia X (XRD), áp suất mao dẫn (Pc) và đo độ rỗng, độ thấm.
Đối tượng E được thành tạo trong môi trường có ảnh hưởng của hồ và sông có đặc điểm là sét kết/đá phiến xen kẽ với cát kết, với tính thấm chứa giảm đi trong các khoảng mẫu có độ hạt mịn hơn. Các phân tích XRD và SEM cho thấy tính chất đá chứa bị ảnh hưởng bởi nhiều loại khoáng chất tự sinh, chẳng hạn như xi măng cacbonat, quartz overgrowths, zeolit và sét laumontite, tất cả đều có xu hướng làm giảm tính chất thấm chứa của đối tượng nghiên cứu. Trong khi đó, sự hình thành F được lắng đọng trong môi trường năng lượng cao hơn so với đối tượng E. Đây chủ yếu là môi trường dòng sông bện được biểu thị bằng các khoảng cát kết dày có độ rỗng và độ thấm tốt. Trong đối tượng F, tính chất vỉa chứa bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự quá trình biến chất. Các lỗ rỗng trong cát kết E và F bị giảm kích thước bởi sự nén chặt và sự kết hợp của các khoáng chất lấp đầy lỗ rỗng bao gồm xi măng canxit, sét authigenic và, quartz overgrowths, gây ra sự giảm tính chất thấm rỗng của vỉa chứa. Tuy nhiên, sự giảm tính chất vỉa chứa không rõ ràng như đối tượng E.
Các tài liệu tham khảo
Robert J. Morley, Bui Viet Dung, Nguyen Thanh Tung, A.J. Kullman, Robert T. Bird, Nguyen Van Kieu, and Nguyen Hoai Chung, “High-resolution Palaeogene sequence stratigraphic framework for the Cuu Long basin, offshore Vietnam, driven by climate change and tectonics, established from sequence biostratigraphy”, Palaeogeography, Palaeoclimatology, Palaeoecology, Vol. 530, pp. 113 - 135, 2019. DOI: 10.1016/j.palaeo.2019.05.010.
Nguyen Xuan Huy, Bae Wisup, Ngo Thuong San, V.T. Xuan, J. Sung Min, and Kim D.Y., “Fractured basement reservoir and oil displacement mechanism in White Tiger field, offshore Vietnam”, AAPG Search and Discovery Article, Singapore, 16 - 19 September 2012.
Tran Le Dong and Phung Dac Hai, “Cuu Long sedimentary basin and petroleum resources”, The petroleum geology and resources of Vietnam, Science and Technics Publishing House, 2007.
William Jay Schmidt, Bui Huy Hoang, James W. Handschy, Vu Trong Hai, Trinh Xuan Cuong, and Nguyen Thanh Tung, “Tectonic evolution and regional setting of the Cuu Long Basin, Vietnam”, Tectonophysics, Vol. 757, pp. 36 - 57, 2019. DOI:10.1016/j.tecto.2019.03.001.
“High resolution biostratigraphy report well 1, Block X, Cuu Long basin”. 1974.
Robert L. Folk, Petrology of sedimentary rocks. Hemphill Diesel Eng Schools, 1974.
Lieu Kim Phuong, Le Thi Thu Hang, Nguyen Van Hieu, and Nguyen Minh Nhut, “Characterization of petrography and diagenetic processes influence on porosity and permeability of Oligocene sandstone reservoir rocks, Block 15-2 in Cuu Long basin”, International Journal of Engineering Research and Applications, Vol. 7, No. 6, pp. 62 - 73, 2017. DOI:10.9790/9622-0706076273.
Ho Minh Toan, Lieu Kim Phuong, Doan Thi Thuy, and Bui Thi Ngoc Phuong, “Generation of authigenic clay minerals during diagenesis and their influences on porosity and permeability of Oligocene sandstones reservoir rocks, from a well in the west of Cuu Long basin”, Science & Technology Development Journal, Vol. 17, No. 3, pp. 21 - 26, 2014. DOI: 10.32508/stdj.v17i3.1456.
1. Tác giả giao bản quyền bài viết (tác phẩm) cho Tạp chí Dầu khí, bao gồm quyền xuất bản, tái bản, bán và phân phối toàn bộ hoặc một phần tác phẩm trong các ấn bản điện tử và in của Tạp chí Dầu khí.
2. Bằng cách chuyển nhượng bản quyền này cho Tạp chí Dầu khí, việc sao chép, đăng hoặc sử dụng một phần hay toàn bộ tác phẩm nào của Tạp chí Dầu khí trên bất kỳ phương tiện nào phải trích dẫn đầy đủ, phù hợp về hình thức và nội dung như sau: tiêu đề của bài viết, tên tác giả, tên tạp chí, tập, số, năm, chủ sở hữu bản quyền theo quy định, số DOI. Liên kết đến bài viết cuối cùng được công bố trên trang web của Tạp chí Dầu khí được khuyến khích.